Toàn thư Thế giới Pokemon
Danh sách Pokémon Thế hệ III
Tra cứu nhanh Pokémon theo hệ, thế hệ, tìm kiếm và phân trang. Dữ liệu được cập nhật tự động từ PokéAPI.
Thử tạo đội hìnhTổng cộng: 135 Pokémon
Armaldo
Loài này sống trên cạn và xuống biển để săn mồi. Đôi càng sắc bén là vũ khí lợi hại nhất của chúng.
Feebas
Hinbass cứng cỏi không ngần ngại sống ngay cả trong nước bẩn. Tuy nhiên, do vẻ ngoài bù xù và nhếch nhác nên chúng không được ưa thích.
Milotic
Vảy của Milokaross được gọi là "cầu vồng". Chúng thay đổi màu sắc khi nhìn từ các hướng khác nhau.
Castform
Dù hình dáng của loài này thay đổi theo thời tiết, nhưng có vẻ đó là kết quả của phản ứng hóa học, chứ không phải là chúng biến đổi theo ý mình.
Kecleon
Chúng biến đổi màu da để hòa vào môi trường xung quanh. Nếu không ai phát hiện ra chúng trong một thời gian dài thì chúng sẽ dỗi và không bao giờ lộ dạng nữa.
Shuppet
Món ăn khoái khẩu của Kagebouzu là những cảm xúc ghen tỵ và ác ý. Chiếc sừng dựng đứng của chúng sẽ cảm nhận được tâm trạng của loài người.
Banette
Juppeta sinh ra từ những oán niệm trong một món đồ chơi nhồi bông bị vứt bỏ. Người ta hay thấy chúng ở trong những con hẻm âm u.
Duskull
Năng lượng sinh học từ trẻ em là thức ăn yêu thích của Yomawaru. Chúng lảng cảng xung quanh thị trấn vào nửa đêm để tìm kiếm trẻ em.
Dusclops
Samayouru được cho là có khả năng hút linh hồn ra khỏi cơ thể nạn nhân bằng những động tác bí ẩn của bàn tay, khiến ai cũng sợ chúng.
Tropius
Tropius sống ở vùng rừng mưa nhiệt đới. Đống trái cây quanh cổ chúng vừa ngọt vừa ngon. 1 năm trái cây sẽ mọc 2 lần.
Chimecho
Chirean sử dụng giác hút trên đầu để treo mình lên các cành cây hoặc dưới hiên nhà. Chúng có thể tạo ra 7 âm sắc khác nhau.
Absol
Điều duy nhất không may mắn về Absol là ngoại hình của chúng. Tuy vậy, chúng ta nên biết ơn Absol, vì chúng bảo vệ ruộng nương và cảnh báo thiên tai cho con người.
Wynaut
Hành động theo đàn lớn. Bằng cách chụm lưng, chúng rèn luyện khả năng chịu đựng bền bỉ.
Snorunt
Nhiều cá thể Yukiwarashi tập hợp lại dưới một cái lá to và sống thành bầy ở đó.
Glalie
Bằng dòng khí lạnh phả ra từ mũi, con mồi bị đóng băng trong tích tắc. Chúng ăn ngấu nghiến đối thủ đang trong trạng thái đó.
Spheal
Loài này lúc di chuyển lăn còn nhanh hơn đi bộ. Khi nguyên bầy ăn chúng sẽ vỗ tay cùng lúc để thể hiện sự khoái chí, nên bữa ăn của chúng cực kì ồn ào.
Sealeo
Todoggler có thói quen hay tung hứng đồ vật chúng vừa nhìn thấy lần đầu trên đầu mũi. Chúng thi thoảng tự mình giải trí bằng cách giữ thăng bằng và lăn đồ vật bằng mũi.
Walrein
Cặp ngà phát triển vĩ đại của loài này có thể phá nát tảng băng nặng mười tấn chỉ bằng một cú húc. Lớp mỡ dày giúp chúng giữ ấm trong môi trường âm độ C.
Clamperl
Khác với vẻ bề ngoài, loài này là loài ăn thịt. Chúng dùng hai bên vỏ sò kẹp chặt con mồi cho tới khi con mồi ngừng cử động.
Huntail
Chúng bơi không được tốt cho lắm. Loài này dùng đuôi nhử mồi rồi đợi mồi tới gần là nuốt chửng.
Gorebyss
Màu sắc của loài này thay đổi dựa theo nhiệt độ của nước. Màu của Sakurabyss ở vùng Alola tươi đến chói lóa.
Relicanth
Glanth được cho rằng là đã tuyệt chủng. Chúng được đặt tên theo người đã phát hiện ra chúng.
Luvdisc
Người ta thích thân hình trái tim của Lovecus. Một số nơi còn có phong tục tặng Lovecus cho người mình thích.
Bagon
Cái đầu cứng như gang thép của Tatsubay có thể đập tảng đá thành mảnh vụn. Chúng luôn ngóng chờ đôi cánh của mình mọc ra.